MÔ HÌNH CÁC BẤT THƯỜNG MACH MÁU TRÊN DA Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
DOI:
https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.352Từ khóa:
bất thường mạch máu trên da, phân loại ISSVA, u mạch máu, dị dạng mạch máu, mô hình bệnhTóm tắt
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả mô hình bệnh và phân tích đặc điểm lâm sàng của các bất thường mạch máu trên da ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán bất thường mạch máu trên da đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 7/2025 đến tháng 6/2026. Tổn thương được phân loại theo hệ thống phân loại của Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Bất thường Mạch máu (ISSVA) thành hai nhóm chính: u mạch máu và dị dạng mạch máu. Các thông tin về tuổi, giới tính, đặc điểm tổn thương và kết quả cận lâm sàng được thu thập và xử lý bằng phần mềm R.
Kết quả: Tổng số 331 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, gồm 165 trường hợp u mạch máu và 166 trường hợp dị dạng mạch máu. Tuổi trung vị là 10 (dao động 0-70 tuổi), với phân bố hai cực rõ rệt: 24,2% bệnh nhân ≤1 tuổi và 32,6% >18 tuổi. Khối u mạch máu gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ, trong khi dị dạng mạch máu phân bố nhiều hơn ở nhóm tuổi lớn (p<0,001). Bệnh nhân nữ chiếm ưu thế với 63,1%, cao gần gấp đôi nam giới (36,9%), tỷ lệ này tương đồng giữa hai nhóm (p>0,9). Trong các thể bất thường mạch máu, u máu trẻ em chiếm tỷ lệ cao nhất (51,1%), tiếp theo là bớt rượu vang (39,0%) và giãn mạch (7,9%); các thể còn lại (hồ tĩnh mạch, u hạt sinh mủ, dị dạng mạch bạch huyết, dị dạng mạch máu không đặc hiệu) mỗi loại chiếm tỷ lệ ≤0,9%. Vùng đầu-mặt-cổ là vị trí thường gặp nhất (77,3% tổng số), trong đó dị dạng mạch máu tập trung ở vùng này cao hơn rõ rệt so với u mạch máu (89,2% so với 65,5%; p<0,001). Phần lớn tổn thương là đơn ổ (59,8%); tuy nhiên dị dạng mạch máu có tỷ lệ tổn thương lan tỏa cao hơn khối u mạch máu (30,1% so với 9,7%; p<0,001). Sự khác biệt về phân bố bên giữa hai nhóm cũng có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Về hình thái, u mạch máu chủ yếu biểu hiện dạng sẩn (55,2%), trong khi dị dạng mạch máu chủ yếu là đám (53,0%) và dát (41,0%) (p<0,001). Về màu sắc, màu đỏ gặp nhiều hơn ở u mạch máu (52,7%), còn màu hồng chiếm ưu thế ở dị dạng mạch máu (51,8%) (p<0,001).
Kết luận: Các bất thường mạch máu trên da có biểu hiện lâm sàng đa dạng. U mạch máu và dị dạng mạch máu khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi khởi phát, xu hướng phân bố theo giới, vị trí giải phẫu, hình thái và màu sắc tổn thương, qua đó khẳng định giá trị của hệ thống phân loại ISSVA trong việc phân biệt hai nhóm bệnh lý này, hỗ trợ chẩn đoán và định hướng điều trị. Việc nhận diện sớm các đặc điểm phân biệt này, đặc biệt tro/ng giai đoạn nhũ nhi, cùng với phối hợp đa chuyên khoa đối với các trường hợp tổn thương lan tỏa hoặc ảnh hưởng chức năng, có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng.
* Tác giả liên hệ: Vũ Huy Lượng; email: vuhuyluong@hmu.edu.vn;
Ngày nhận bài: 24/7/2026
Ngày phản biện: 15/8/2026
Ngày chấp nhận đăng: 03/9/2026

