SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA MÀY ĐAY MẠN TÍNH TỰ PHÁT ĐƠN THUẦN VÀ ĐỒNG MẮC MÀY ĐAY MẠN TÍNH CẢM ỨNG KHÁNG TRỊ VỚI THUỐC KHÁNG HISTAMINE LIỀU CHUẨN

Các tác giả

  • Phạm Thị Thảo Trường Đại học Y Hà Nội
  • Nguyễn Thị Kim Cúc Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Phạm Thị Hoàng Yến Trường Đại học Y Hà Nội
  • Nguyễn Thị Mai Hương Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Lê Hữu Doanh Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Vũ Nguyệt Minh Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương

DOI:

https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.351

Từ khóa:

Mày đay mạn tính tự phát, kháng trị với thuốc kháng histamin liều chuẩn, phù mạch, nồng độ IgE, test huyết thanh tự thân

Tóm tắt

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng giữa hai thể CSU đơn thuần (isoCSU: isolated CSU) và CSU đồng mắc mày đay mạn tính cảm ứng (CSU+CIndU: CSU concomitant chronic inducible) của bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát kháng trị với thuốc kháng histamine H1 liều chuẩn (R-CSU: Refractory chronic spontaneous urticaria).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 1510 bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát kháng trị (R-CSU: Refractory chronic spontaneous urticaria) với thuốc kháng histamine H1 liều chuẩn tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 2/2023 đến tháng 4/2026.

Kết quả: Nhóm R-isoCSU chiếm 88,7%; R-CSU + CIndU chiếm 11,3%. Hai nhóm đều có sự tương đồng về độ tuổi (50% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi từ 21 – 46 tuổi), giới tính (nữ giới chiếm ưu thế 62,2%), số lượng và tỉ lệ giảm bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm máu ngoại vi, nồng độ và tỉ lệ tăng CRP và IgG kháng TPO huyết thanh và tỉ lệ ANA Hep 2 dương tính (p > 0,05). R-isoCSU có thời gian diễn biến đợt bệnh ngắn hơn (12 [8-25] tuần) nhưng tỉ lệ phù mạch (34,8%), tỉ lệ tăng IgE toàn phần (78,9%) và tỉ lệ test huyết thanh tự thân (ASST) dương tính (54,1%) cao hơn R-CSU +CIndU (tương ứng là 16 [8-36,5] tuần; 18,8%; 68,7% và 40,7%) (p < 0,05). Về mức độ hoạt động bệnh trước điều trị, nhóm R-isoCSU có điểm UAS7 (28 [28-35] điểm) và tỉ lệ bệnh nặng (80,5%) cao hơn nhóm R-CSU +CIndU (28 [25,75 – 30,50] điểm và 73,5%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,07 và p=0,09).

Kết luận: R-isoCSU có thể mang đặc điểm của CSU tự miễn và tự dị ứng cao hơn R-CSU +CIndU.

Từ khóa: Mày đay mạn tính tự phát, kháng trị với thuốc kháng histamin liều chuẩn, phù mạch, nồng độ IgE, test huyết thanh tự thân.

*Tác giả liên hệ: Vũ Nguyệt Minh; email: vunguyetminh@hmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 08/9/2026

Ngày phản biện:01/10/2026

Ngày chấp thuận: 06/10/2026

Tải xuống

Đã Xuất bản

06-10-2026

Cách trích dẫn

Phạm Thị Thảo, Nguyễn Thị Kim Cúc, Phạm Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Mai Hương, Lê Hữu Doanh, & Vũ Nguyệt Minh. (2026). SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA MÀY ĐAY MẠN TÍNH TỰ PHÁT ĐƠN THUẦN VÀ ĐỒNG MẮC MÀY ĐAY MẠN TÍNH CẢM ỨNG KHÁNG TRỊ VỚI THUỐC KHÁNG HISTAMINE LIỀU CHUẨN. Tạp Chí Da liễu học Việt Nam, (online). https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.351

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

<< < 1 2 3 > >>