MÔ HÌNH QUẢN LÝ BỆNH LÝ TẠI PHÒNG KHÁM VIÊM MẠCH BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Các tác giả

  • Lê Phương Thanh Trường Đại học Y Hà Nội
  • Lê Hữu Doanh Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Nguyễn Thùy Linh Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Nguyễn Kiều Trang Bệnh viện Hữu Nghị
  • Trần Thị Thanh Tâm Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Lê Thị Hoài Thu Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Nguyễn Duy Nhâm Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Vũ Huy Lượng Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương

DOI:

https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.347

Từ khóa:

Giả viêm mạch, Livedoid vasculopathy, Viêm mạch, Mô hình bệnh

Tóm tắt

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả mô hình bệnh lý tại Phòng khám Viêm mạch, Bệnh viện Da liễu Trung ương từ ngày 01/5/2025 đến ngày 30/4/2026.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện, trên 620 hồ sơ bệnh án có chẩn đoán xác định thuộc nhóm viêm mạch hoặc giả viêm mạch, có đầy đủ thông tin hành chính và lâm sàng cần thiết, đủ tiêu chuẩn, lưu trữ tại Phòng khám Viêm mạch máu, Bệnh viện Da liễu Trung ương trong thời gian trên. Số liệu được phân tích bằng tần số (n), tỷ lệ phần trăm (%) và các kiểm định thống kê phù hợp.

Kết quả: Trong 620 bệnh nhân, nhóm viêm mạch chiếm 415 ca (66,9%) và nhóm giả viêm mạch 205 ca (33,1%). Nhóm giả viêm mạch có tuổi trung bình cao hơn rõ rệt (40,5 ± 19,2 so với 28,4 ± 18,2 năm; p < 0,001); cả hai nhóm đều có tỷ lệ nữ ưu thế, không khác biệt có ý nghĩa thống kê (63,6% và 70,2%; p = 0,12). Viêm mạch IgA (49,9%) và CSVV (42,4%) là chẩn đoán thường gặp nhất trong nhóm viêm mạch; livedoid vasculopathy (LV, 53,7% trong nhóm giả viêm mạch) đứng đầu nhóm giả viêm mạch. Viêm mạch đặc trưng bởi dát xuất huyết (71%) và sẩn xuất huyết (48%); LV đặc trưng bởi loét (73%), sẹo (70%) và tăng sắc tố (65%) (p < 0,001). Về mô bệnh học, viêm mạch nổi bật với hình ảnh viêm mạch hoại tử bạch cầu, còn LV đặc trưng bởi huyết khối trong lòng mạch (76,5% so với 1,3%) và tăng sinh mạch máu nhỏ (68,6% so với 1,6%) (p < 0,001). Thận là cơ quan tổn thương thường gặp nhất (25,1% ở viêm mạch, 15,7% ở LV; p = 0,049). Điều trị khác biệt rõ: viêm mạch dùng chủ yếu thuốc kháng viêm (kháng histamin 66%, colchicin 55%), trong khi LV điều trị theo hướng chống huyết khối (rivaroxaban 65%, pentoxifylline 61%) (p < 0,001).

Kết luận: Tại Phòng khám Viêm mạch, Bệnh viện Da liễu Trung ương, nhóm viêm mạch chiếm ưu thế so với giả viêm mạch, với đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, tổn thương cơ quan và hướng điều trị khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm. Việc phân biệt chính xác hai nhóm bệnh ngay từ giai đoạn chẩn đoán có ý nghĩa quan trọng trong lựa chọn phác đồ điều trị.

Từ khóa: Giả viêm mạch; Livedoid vasculopathy; Mô hình bệnh; Viêm mạch.

* Tác giả liên hệ: Vũ Huy Lượng; email: vuhuyluong@hmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 27/6/2026

Ngày phản biện:17/7/2026

Ngày chấp nhận đăng: 19/8/2026

Tải xuống

Đã Xuất bản

19-08-2026

Cách trích dẫn

Lê Phương Thanh, Lê Hữu Doanh, Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Kiều Trang, Trần Thị Thanh Tâm, Lê Thị Hoài Thu, … Vũ Huy Lượng. (2026). MÔ HÌNH QUẢN LÝ BỆNH LÝ TẠI PHÒNG KHÁM VIÊM MẠCH BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG. Tạp Chí Da liễu học Việt Nam, (online). https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.347

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

<< < 1 2