ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH MẠCH MÁU DẠNG MẠNG LƯỚI TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 8/2025 ĐẾN THÁNG 6/2026

Các tác giả

  • Lương Thị Quỳnh Anh Trường Đại học Y Hà Nội
  • Phạm Thị Lan Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Nguyễn Thùy Linh Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Lê Hữu Doanh Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Bùi Thị Phương Minh Bệnh viện Da liễu Trung ương
  • Vũ Huy Lượng Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Da liễu Trung ương

DOI:

https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.338

Từ khóa:

Bệnh mạch máu dạng mạng lưới, cận lâm sàng, huyết khối vi mạch, lâm sàng, loét chân

Tóm tắt

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh mạch máu dạng mạng lưới đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 6/2025 đến tháng 6/2026.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 8 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026 trên 99 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh mạch máu dạng mạng lưới tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân livedoid vasculopathy là 38,6 ± 15,1 tuổi, nhóm 15–50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ nữ/nam là 3,18:1. Thời gian mắc bệnh từ 1–5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (39,0%), và 67,7% bệnh nhân ghi nhận bệnh nặng lên vào mùa hè. Các yếu tố và bệnh lý đi kèm thường gặp gồm nghề nghiệp phải đứng lâu trên 8 giờ/ngày (19,2%), suy giãn tĩnh mạch chi dưới (11,1%), hút thuốc lá (9,1%) và béo phì (8,1%). Các tổn thương lâm sàng thường gặp gồm tăng sắc tố (96,0%), loét da (90,9%), sẹo teo trắng sứ (78,8%) và livedo racemosa (71,7%), chủ yếu phân bố đối xứng hai bên và tập trung ở vùng mắt cá chân. Đau là triệu chứng cơ năng nổi bật nhất (91,1%), tiếp theo là tê bì, dị cảm (40,4%) và ngứa (20,2%). Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa và đông máu cơ bản hầu hết trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp dương tính ở 92,5% bệnh nhân, với fibrinogen là thành phần lắng đọng quanh mạch máu thường gặp nhất

Kết luận: Livedoid vasculopathy chủ yếu gặp ở nữ giới trong độ tuổi 15-55 tuổi, có diễn biến mạn tính và xu hướng tái phát nhiều hơn vào mùa hè. Lâm sàng đặc trưng bởi tổn thương loét da, livedo racemosa, sẹo teo trắng sứ và tăng sắc tố, phân bố đối xứng hai bên và tập trung chủ yếu ở vùng mắt cá chân và bàn chân. Đau là triệu chứng cơ năng thường gặp nhất.. Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa và đông máu cơ bản hầu hết nằm trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp có tỷ lệ dương tính cao với fibrinogen là thành phần lắng đọng thường gặp nhất. Cân làm thêm các nghiên cứu khảo sát chuyên sâu hơn về các yếu tố đông máu, miễn dịch và di truyền làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh, các yếu tố liên quan và định hướng chiến lược điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân LV.

Từ khóa: Bệnh mạch máu dạng mạng lưới, cận lâm sàng, huyết khối vi mạch, lâm sàng, loét chân.

                                                *Tác giả liên hệ: Vũ Huy Lượng; E.mail: huyluong84@gmail.com

Ngày nhận bài:30/6/2026

Ngày phản biện: 21/7/2026

Ngày chấp nhận đăng:14/8/2026

Tải xuống

Đã Xuất bản

14-08-2026

Cách trích dẫn

Lương Thị Quỳnh Anh, Phạm Thị Lan, Nguyễn Thùy Linh, Lê Hữu Doanh, Bùi Thị Phương Minh, & Vũ Huy Lượng. (2026). ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH MẠCH MÁU DẠNG MẠNG LƯỚI TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 8/2025 ĐẾN THÁNG 6/2026. Tạp Chí Da liễu học Việt Nam, (online). https://doi.org/10.56320/tcdlhvn.online.338

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

<< < 1 2 3 > >>